PHẬT PHÁP Buddhaya Dhammaya
Phật Tại Tâm
24/11/2025
Sinh tử luân hồi
Con chào Sư ông,
Trước giờ con vẫn chưa hiểu câu "Sinh tử luân hồi" là như thế nào. Thầy có thể giải thích giúp con hiểu rõ được không ạ. Con cảm ơn Thầy!
Trả lời:
- Khởi lên câu hỏi này gọi là "sinh"
- Ngưng hỏi là "tử".
- Nếu chưa thấu hiểu sẽ còn hỏi đi hỏi lại gọi là "luân hồi".
- Khi đã thông suốt thì không sinh nên không tử, không sinh tử nên không luân hồi.
- Kinh gọi điều này là "không còn trở lại trạng thái này nữa".
()()()
Luân hồi sinh tử có hai nghĩa:
Một là sự tái sinh từ kiếp này qua kiếp khác theo định luật nhân quả của nghiệp.
Hai là sự sinh diệt của những tiến trình tâm-sinh-vật lý kế tục không dứt trong sự tương giao căn - cảnh - thức diễn ra trong đời sống hàng ngày đối với những người chưa giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Tiến trình này trong một giây có thể diễn đi diễn lại hàng triệu lần nên gọi là luân hồi sinh tử. Nếu đó là tiến trình tạo nghiệp thì đúng là nhân tái sinh trong những kiếp sau.
- Một người hành đúng thiền Vipassanà thì nếu chưa hoàn toàn thoát ly sinh tử, trong kiếp sau họ đương nhiên sẽ có cơ hội hành thiền Vipassanà trở lại. Nhưng nếu hành không đúng thì kiếp sau họ sẽ hành một pháp thiền mà nội dung giống như họ đã hành sai trong kiếp này.
Ví dụ, mặc dù họ nói là hành thiền tuệ, nhưng thực chất lại đang hành thiền định thì kiếp sau họ sẽ có duyên với một pháp thiền định nào đó tương ứng với trình độ tâm của họ, vì trong kiếp sau những gì còn lại chính là trình độ tâm mà họ tạo được trong kiếp này cộng với những kiếp quá khứ của họ...
()()()
Con kính chào Thầy!
Con kính nhờ Thầy nói cho con biết: Phước của một người bao gồm những gì? Tại con hiểu từ Phước này mơ hồ quá.
Con cảm ơn Thầy!
Trả lời:
Phước của một người;
+ Về nhân là hành động, nói năng, suy nghĩ với tâm lương thiện, trong lành.
+ Về quả là trạng thái thân tâm và cảnh được an lạc, hanh thông.
()()()
Dạ! Bạch Thầy từ bi khai thị cho con biết phải làm sao để ứng xử với anh trai con.
Anh trai con là một người hay nghe lời vợ nên thường có những lời không tốt với mẹ con, mỗi lần giỗ hay lễ mẹ con cúng chay, anh con không đồng ý rồi gây bất hòa, con khuyên mẹ nên tùy duyên, nếu anh muốn cúng mặn để anh tự làm, con và mẹ con đều ăn chay hướng đạo, khi mà cứ thấy anh con sát sanh hại vật, con rất thương mà khuyên không được, con thường im lặng vì nói ra là anh tỏ cái tôi nhiều, con cũng không muốn nói, con không biết làm sao để ứng xử, xin Thầy từ bi khai thị.
Trả lời:
- Giác ngộ chủ yếu là "tự mình thắp đuốc lên mà đi". Mỗi lần thầy cầm dù che mưa, nhiều Phật tử muốn che dù cho thầy, nhưng mỗi lần như thế thì cả thầy lẫn người che giúp đều bị ướt. Qua đó thầy ngộ ra rằng không ai che dù cho mình tốt bằng chính mình tự che. Do đó không nên chủ quan khi muốn "độ" người khác. Vì vô tình chỉ làm khổ mình khổ người thôi.
()()()
Dạ thưa thầy, sau một thời gian con tìm hiểu về Phật pháp, thì tính tình con trở nên trầm lặng. Khi gặp những đồng nghiệp mới, lẽ ra con phải giao tiếp và tạo mối quan hệ với họ để công việc được thuận lợi, nhưng đằng này con cảm thấy không muốn làm quen hay giao tiếp với ai, bình thường con cũng không thích nói chuyện, chỉ khi ai hỏi thì con mới trả lời. Thầy cho con hỏi là con có đang đi sai đường không ạ. Con xin cảm ơn Thầy.
Trả lời:
- Tu không phải để trầm lặng, mà là soi sáng để thấy ra chính mình. Những giao tiếp, va chạm sẽ giúp con thấy ra chính mình rõ hơn. Thấy ra sự thật là chính, còn trầm lặng hay linh hoạt thì tuỳ duyên mà ứng xử, không nên kẹt vào bên nào. Tất nhiên khi thấy ra sự thật thì tự động loại bỏ những điều không cần thiết nữa.
()()()
Con đảnh lễ Thầy!
Mong Thầy chỉ dạy con ý nghĩa nghi thức quán tưởng vật thực trước khi ăn ạ?
Con cám ơn Thầy.
Trả lời:
- Quán tưởng về sự bất tịnh và mục đích chơn chánh khi thọ dụng vật thực để không phải ăn vì tham đắm hương vị thơm ngon mà chỉ để khỏi đói và để sống còn trong đời sống tu tập.
-Tri ân Tam Bảo, thầy tổ, cha mẹ, chư thiên hộ pháp, các thí chủ và tất cả chúng sanh đã giúp mình có được vật thực để nuôi thân sống qua ngày trên đường tu tập, thực hành chánh pháp.
()()()
"...Đức có nhiều thứ, nhưng trong đó có 2 đức quan trọng nhất là tâm thanh tịnh (tịnh đức) và trí tuệ sáng suốt (tuệ đức). Đức Phật được xưng tụng là bậc Lưỡng Túc Tôn là vì có hai đức tính này.
Vậy trước thành-bại, được-mất, hơn-thua, khen-chê, vinh-nhục mà vẫn giữ được thanh tịnh trong sáng mới là đức lớn nhất. Còn tiền tài chỉ là phước hữu lậu (còn đem đến phiền não) mà thôi.
()()()
"...Khi phiền não là vọng tưởng (không thực) thì niệm sự chết có nghĩa là buông xả, tức trở về tâm rỗng lặng trong sáng thì phiền não tự diệt. Còn khi phiền não là đau khổ (có thực) thì nhẫn nại để trọn vẹn cảm nhận cảm thọ khổ cũng để thấy sự sinh diệt của nó.
()()()
Kính đảnh lễ Sư Ông. Dạ cho con hỏi làm sao để nhận mà không dính mắc ạ?
Vì lúc con nhận một điều gì từ người khác, trong con luôn có một suy nghĩ rằng con mắc nợ người ta và tìm cách để cho lại họ một điều tương tự. Cho nên mỗi khi ai đó muốn cho con thứ gì con tìm cách để né tránh ko muốn nhận. Nếu không từ chối được thì con cũng nhận mà tâm lý con không được thoải mái.
Kính mong Sư Ông giúp con tháo gỡ tâm lý ạ. Con kính tri ân Sư Ông ạ.
Trả lời :
Nhận cũng là một cách cho. Khi con biếu tặng ai một vật gì vì thương yêu hay tôn kính mà họ từ chối không nhận con sẽ rất buồn, nếu họ hoan hỷ nhận con sẽ rất vui. Vậy khi con nhận chính là đang cho lại niềm hoan hỷ, hạnh phúc. Không nhận mới là ích kỷ, nhỏ nhen vì sợ mắc nợ.
Chỉ khi người cho có ý đồ lợi dụng và người nhận vì tham mới mắc nợ nhau mà thôi..."
Thầy Viên Minh;
Trích mục Hỏi Đáp
Trungtamhotong org
Namo Buddhaya.
19/04/2025
Pháp Ngữ - THIỀN
Ngay Nơi Thực Tại THÂN-TÂM-CẢNH
- Đừng tìm hiểu bằng lý trí mà nên khám phá bằng trực nghiệm (trải nghiệm trực tiếp) sự thật nơi thân-tâm-cảnh hay nơi thân thọ tâm pháp. Nói cho dễ hiểu là nên thường lặng lẽ soi chiếu lại chính mình.
()()()
"...Chỉ đứng nhìn mà không phê phán, kiểm duyệt, giải quyết thì dần dần con sẽ thấy được sự vận hành, sự sinh diệt của các cảm giác, cảm xúc, tư tưởng,... Trong cái nhìn bất động đó thì các pháp sinh sẽ tự diệt chứ không cần cái ta can thiệp vào. Đó mới chính là thanh tịnh.
()()()
"...Thiền chính là trọn vẹn với cái đang là (chánh niệm) với tâm rỗng lặng trong sáng. Chẳng có cái gì cần thiết hơn thực tại. Chỉ vì không thấy rằng ngay nơi thực tại đã có tất cả nên bản ngã mới loay hoay tìm kiếm bên ngoài...
()()()
- Thiền là thấy ra sự vận hành đúng như bản chất của pháp nơi thực tại thân tâm, nghĩa là ngay nơi mọi hoạt động hàng ngày của con. Thận trọng chú tâm quan sát trạng thái hoạt động của thân, của cảm giác, của tâm hành, của sự tương giao thân tâm và ngoại cảnh một cách tự nhiên được đức Phật gọi là thiền Tứ Niệm Xứ.
- Mỗi người vốn tự nhiên đã sẵn có sự thận trọng, sự chú tâm, sự quan sát. Nếu tâm không buông lung theo sự thúc dục của cái ta ảo tưởng thì ngay đó tâm liền có tinh tấn, chánh niệm và tỉnh giác, và lúc đó thận trọng chính là giới, chú tâm chính là định, quan sát chính là tuệ. Vì vậy, thiền là thái độ sống sáng suốt, định tĩnh, trong lành một cách tự nhiên..."
()()()
- Khi tham ái khởi lên thì đó là thái độ tham ái của cái ta ảo tưởng, nhưng khi tỉnh giác có mặt thì thái độ là tỉnh giác còn tham ái đã trở thành trạng thái.
Khi tham ái là thái độ thì hữu ngã, nhưng khi tham ái là trạng thái thì vẫn là vô ngã. Nếu thái độ tỉnh giác còn là "ta tỉnh giác" thì mới xem trạng thái tham ái là "ta tham ái", còn nếu thái độ tỉnh giác là tánh biết tự nhiên vô ngã thì đâu còn ái để đặt thành vấn đề trạng thái tham ái hiện diện hay không hiện diện?
Đoạn tận ái dục là đoạn tận thái độ ái dục, chứ không phải đoạn tận trạng thái ái dục.
Đơn giản là trong quan sát chỉ có quan sát chứ không có người quan sát nên mới gọi là minh sát (vipassanā).
Tham ái hiện diện thì thấy tham ái hiện diện, tham ái không hiện diện thì thấy tham ái không hiện diện, đó mới là minh sát. Nhưng nếu trong quan sát còn có người quan sát thì con không thấy thực tánh của tham ái như nó là mà chỉ muốn làm thế nào để vượt qua tham ái, và ý muốn vượt qua này cũng chính là thái độ tham ái.
Vậy không phải vượt qua tham ái mà vượt qua người quan sát tham ái. Trong quan sát không có người quan sát thì liền thấy tham ái chính là tánh không..."
()()()
- Chánh niệm tỉnh giác là tâm trở về (chánh niệm) thắp sáng (tỉnh giác) thực tại đang là, dù thực tại đó là hoạt động của thân, của những cảm giác khổ lạc, cảm xúc vui buồn hay những hoạt động của nội tâm như suy tư, thương, ghét ...
()()()
- Khi đi mà tâm lang thang bất định không biết rõ động thái đang đi;
- khi đau đớn thì liền lo sợ, tưởng tượng lung tung, không biết rõ trạng thái đau đang diễn biến ra sao
- khi suy nghĩ về một vấn đề nghiêm túc con lại để tâm lang thang ra “ngoài luồng”, quên mất mình phải trầm tĩnh sáng suốt mà suy nghĩ ngay trên thực kiện.
- khi làm một bài tập con lại nghĩ đến chơi game, không trọn vẹn sáng suốt để làm bài... khi đó mới gọi là thất niệm bất giác..."
()()()
- Khi đi con tỉnh thức (tỉnh giác) trọn vẹn (chánh niệm) với diễn biến động tác đi, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên thân;
- Khi đau đớn con tỉnh thức trọn vẹn với cảm giác đau, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên thọ;
- Khi suy nghĩ con tỉnh thức trọn vẹn với dòng suy nghĩ, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên tâm;
- Khi làm bài tập (nghĩa là một hoạt động kết hợp nhiều động tác của thân, thọ, tâm) con vẫn tỉnh thức trọn vẹn với việc làm bài, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên pháp.
Thầy Viên Minh;
Trích mục Hỏi Đáp & Pháp thoại
Trungtamhotong org
Namo Buddhaya.
26/02/2025
Pháp Ngữ
- Hoàn cảnh chỉ là duyên, không phải là nguyên nhân của hạnh phúc hay đau khổ. Thái độ mới là nguyên nhân chính của phẩm chất đời sống mỗi người, vì vậy con biết trở về soi sáng chính mình là thái độ sáng suốt, nghiêm túc và đúng đạo.
- Trong cuộc sống chủ yếu là thái độ nhận thức trong ứng xử. Thành bại, được mất, hơn thua... không phải là trọng tâm của đời sống, thái độ hành động mới quyết định sự khổ đau hay an lạc. Mất cái này được cái khác, được cái nọ mất cái kia, nên trong phúc có họa, trong họa có phúc khó mà lường được...
- Tùy duyên thuận pháp có nghĩa là dù hoàn cảnh nào cũng luôn sống đúng tốt. Sống đúng tốt thì giảm bớt ác pháp làm hại mình hại người, đồng thời tăng trưởng thiện pháp làm lợi lạc quần sinh vô ngã vị tha. Và sống như vậy dù có thiệt thòi thì thân tâm vẫn an lạc. Do đó Chúa nói "Kẻ nào chịu thiệt thòi trên thế gian này thì được ưu tiên trên nưóc Thiên Đàng". Nước Thiên Đàng đây chính là sự an lạc thuận pháp vậy..."
- Tâm rỗng lặng là tâm không bị che lấp bởi khái niệm, tư tưởng, quan niệm, hay định kiến đã có sẵn. Khi nhìn qua những kính màu này thì không thể thấy được mọi sự mọi vật như nó là (thực tánh), do đó tâm cần buông xả rỗng rang giống như bầu trời không mây thì mặt trời sẽ tự chiếu. Thiền chính là tâm tự chiếu khi không bị mây vọng niệm, tạp niệm (tư kiến tư dục) che lấp vậy..."
《》《》《》
- Khổ đau và hạnh phúc, chân và giả, thực và hư, không và có, Niết-bàn và sinh tử... đều ở ngay trong cuộc sống này và thậm chí ngay đây và bây giờ. Cứ trải nghiệm cuộc sống tự nhiên như pháp đến đi một cách trọn vẹn trong sáng thì con liền cảm nhận được sự mầu nhiệm của đất trời..."
- Tu không phải là "làm sao" để được an lạc, cũng không phải "làm sao" cho đúng theo một khuôn mẫu đạo đức định sẵn nào mà là thấy ra sự thật... Giác ngộ là thấy ra Sự Thật chứ không phải để đạt được điều gì..."
- Đạo ở khắp mọi nơi bất kỳ ai "ít bụi trong mắt" đều có thể thấy, thậm chí dù chưa thấy thì hàng ngày họ vẫn ở trong đó, chỉ vì vọng tưởng lang thang tìm kiếm bên ngoài nên tưởng mình chưa có đó thôi!
- Đạo, càng giản dị càng dễ thấy, nhưng ai cũng ưa phức tạp mới cao siêu, nên vọng cầu mà đành mất nó!
- Ngõ vào Thiền chính là trở về trọn vẹn trong sáng với thực tại để nhận ra bản lai diện mục của Sự Thật Đang Là. Đó chính là cốt lõi của thiền Vipassanā hay thiền Kiến Tánh..."
- Trở về thực tại, thiền Vipassanā gọi là chánh niệm, và Thiền Tông gọi là thân tâm nhất như hay vô niệm. Tâm có chánh niệm thì không lang thang hướng ngoại hay không bỏ quên thực tại thân tâm, tức không rơi vào thất niệm, tạp niệm hay vọng niệm.
Tuy nhiên, trở về với chính mình không phải là trở về một khởi điểm nào đó đã trôi qua, mà chính là trở về tình trạng đang là, với một thái độ bình lặng, vắng mặt mọi ý đồ can thiệp, chọn lựa, lấy bỏ...
《》《》《》
- Trong cái hiện thực đang là pháp vẫn luôn hoàn hảo, chỉ có vọng thức mới thấy pháp không hoàn hảo mà thôi.
Hoàn hảo khác với hoàn mãn, chính vì cầu toàn ở bên ngoài nên con người luôn muốn có một sự hoàn mãn lý tưởng, và từ đó mới thấy cái đang là không hoàn hảo như lý tưởng của mình, mà không biết rằng sự hoàn hảo nhất lại đang ở ngay nơi sự bất toàn của cái đang là.
Hoàn hảo ngay nơi sự bất toàn là sự sống, còn hoàn hảo nơi sự hoàn mãn là đã chết mất rồi.
Thực ra chẳng có gì hoàn mãn, hoàn mãn chỉ là sự hoàn hảo trong lý tưởng sẽ là… mà đúng hơn chính là vọng tưởng.
Chỉ có sự hoàn hảo ngay nơi thực tại đang là, dù đó là hiện thực bất toàn - hiện thực trong tự tánh “bất toàn rất hoàn hảo” chứ không phải là ý niệm “không hoàn hảo” mà lý trí cho là… và nghĩ rằng nó phải là… hoặc sẽ là…
Nói tóm lại, không phải cầu toàn ở bên ngoài mà chỉ có sự hoàn hảo trong thái độ tâm có chứng nhập pháp tánh như thị hay không mà thôi..."
(Thầy Viên Minh - Trungtamhotong.org)
Mô Phật ()()()
25/12/2024
Nhận thức trong thiền tuệ vipassanā
Thiền tuệ sử dụng một cách nhận thức riêng, vượt ngoài những cách nhận thức thông thường trong thế giới ý niệm hay khái niệm chế định. Nói chung, tâm nhận biết đối tượng theo năm cách:
1) Tưởng tri (sañjānāti): biết bằng tưởng (saññā), ngoại trừ hiện tưởng trong năm thức giác quan và tưởng đi chung với trí tuệ (ñāṇa saṃyuttaṃ) có đối tượng thực tánh pháp (paramattha dhamma) hiện tiền (trong một số trường hợp là thực tánh quá khứ), phần lớn tưởng còn lại có đối tượng là pháp khái niệm chế định (paññatti dhamma).
Hai trường hợp đối tượng của tưởng tri là thực tánh pháp và những khái niệm chế định có thực (vjjamāna paññatti) thì rất hữu ích cho cả hai lãnh vực nhận thức thế gian và xuất thế. Ngay cả tưởng tri trên đối tượng khái niệm chế định không có thực (avjjamāna paññatti) nhưng thiện thì vẫn tốt, như khái niệm hiếu thảo chẳng hạn.
Tuy nhiên, khi khái niệm không thực là bất thiện hay chỉ là hoang tưởng, ảo tưởng (vipallāsa saññā) thì hậu quả thật khó lường. Ảo tưởng vẽ ra một thế giới vô cùng phong phú đầy màu sắc, âm thanh, ý nghĩa của riêng nó, có thể đem đến hạnh phúc và đau khổ… nhưng hoàn toàn không thực, lắm khi là điên đảo, thủ chấp như nhận lầm các tướng vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh là thường, lạc, ngã, tịnh. Vì vậy, tuy tưởng có mặt trong tất cả tâm nhưng tưởng tri chỉ có thể cung cấp dữ liệu hoặc làm đối tượng để soi chiếu chứ không phải là nhận thức trực tiếp trong thiền tuệ vipassanā.
2) Thức tri (vijānāti): biết bằng kiến thức (viññāṇa), hầu như tất cả kiến thức đều nằm trong phạm trù khái niệm chế định mà phần lớn là thủ đắc bằng cách vay mượn từ bên ngoài, thuộc khái niệm chế định (paññatti) trong lãnh vực tục đế (sammuti sacca) nên có thể đúng, có thể sai, có thể thiện, có thể bất thiện, nhưng độ xác thực bất định, khi độ sai lệch cao có thể dễ dàng trở thành vọng thức (vipallāsa viññāṇa). Vọng thức đưa đến ảo kiến (māyā diṭṭhi) hay tà kiến (micchā diṭṭhi). Thức tri chính xác, trung thực trong trường hợp chánh tư duy (sammā saṅkappa) có thể hỗ trợ hữu hiệu cho thiền tuệ, nhưng thức tri cũng không phải là nhận thức trực tiếp trong thiền tuệ.
Cái biết qua kiến thức đóng một vai trò quan trọng trong nhận thức của loài người. Không có kiến thức có thể đồng nghĩa với ngu dốt. Nếu tưởng tri có tính máy móc mà phần lớn là vô nhân, thậm chí là vô thức thì thức tri, trong trường hợp ý thức là hữu thức, hữu nhân nghĩa là có chủ định, có suy tính ở một chừng mực nhất định nào đó tùy trình độ của mỗi người. Có thể nói tiến bộ của loài người tất yếu phải trải qua thức tri, hầu hết nhận thức trong những lĩnh vực khoa học, triết học... đều thuộc thức tri.
Và tuy thức tri không phải là nhận thức trực tiếp trong thiền tuệ, thậm chí còn trở ngại cho thiền tuệ rất nhiều nữa là khác, nhưng thực tế không thể loại hẳn thức tri ra khỏi thiền tuệ, như một số người chủ trương phải bặt dứt tư duy nghĩ tưởng mới là trí tuệ thấy tánh. Đúng là thấy thực tánh phải bằng chánh kiến (trí tuệ trực giác) nhưng ngay sau đó chánh tư duy phải khởi lên để xác định lại mới biết được thực tánh ấy là gì.
3) Thắng tri (abhijānāti): biết qua một khả năng đặc biệt của thiền định gọi là thắng trí (abhiññā). Khi một người đắc định sắc giới (rūpajjhāna) hoặc vô sắc giới (arūpajjhāna) có khả năng nhận thức giác quan cũng như ý thức vi tế hơn nhận thức của tâm dục giới, ví dụ như khả năng thấy xuyên qua tường, nghe rõ những âm thanh tai thường không nghe được hoặc hiểu được tiếng nói lạ theo ngôn ngữ của những loài khác v.v... Những khả năng đó có thể hỗ trợ cho thiền tuệ, nhất là khi vị ấy thấy rõ diễn biến của sự thay đổi cực kỳ vi tế trong hiện tượng vật lý hoặc tâm lý mà “mắt” thường không thể nào thấy được.
Tuy nhiên những vị này dù đã đắc định, có thắng trí, vẫn còn phiền não nhất là tham ái, tà kiến và ngã mạn nên cái thấy này không những không bổ ích cho thiền tuệ mà còn phát sinh thêm ngã mạn, tà kiến và tham vọng quyền lực siêu nhiên, vì vậy, lắm khi thắng tri trở thành chướng ngại, nên cũng không phải là nhận thức trong thiền tuệ. (Đôi lúc thắng tri được dùng với nghĩa liễu tri, tức là cái biết với định tuệ viên mãn của bậc Thánh nên cũng không phải là nhận thức trong thiền tuệ).
4) Tuệ tri (pajānāti): biết bằng trí tuệ (paññā hay ñāṇa) mà khởi đầu là trí tuệ chánh niệm tỉnh giác (sati sampajaññā ñāṇa), cái biết trong sáng, không chủ quan, không tham ưu, thủ xả, vượt ngoài ngôn ngữ, ý niệm nên có khả năng nhận thức thực tánh pháp, đối tượng của thiền tuệ, vì vậy, tuệ tri mới chính là nhận thức trong thiền tuệ vipassanā.
Thực ra, tuệ tri được thể hiện qua hai chức năng hỗ tương vô cùng mật thiết, đó là chánh kiến và chánh tư duy. Chánh kiến có nhiệm vụ tuệ tri phương diện thực tánh của pháp, chánh tư duy có nhiệm vụ tuệ tri phương diện tướng dụng của pháp. Chánh tư duy xác định lại thực tánh mà chánh kiến chỉ trải nghiệm hay chứng kiến mà thôi chứ không xác định được. Có thể nói chánh tư duy vừa mở đầu vừa hoàn tất cho chánh kiến, ngược lại chánh kiến cung cấp nội dung trung thực cho chánh tư duy. Hai yếu tố này không thể thiếu một trong đạo lộ của bậc Thánh.
5) Liễu tri (ājānāti): biết bằng tuệ giác (bodhiñāṇa hay sambodhi) của bậc đã giác ngộ, như vậy liễu tri là thành tựu của tuệ tri nên cũng không phải là nhận thức trong khi đang tiến hành thiền tuệ.
Vậy trong 5 cách nhận thức trên chỉ có tuệ tri với 3 yếu tố: tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác mới có thể nhận thức đối tượng thực tánh pháp (paramattha dhamma) trong pháp hành thiền tuệ.
Trích Thiền Phật Giáo - Nguyên Thủy và Phát Triển - Thầy Viên Minh
Nguồn: http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/ThienPhatGiao/index.htm #2
Lành thay - Namo Buddhassa.
12/12/2024
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
(Pháp Cú 76)
Những người hay khuyên dạy,
Ngăn người khác làm ác,
Được người hiền kính yêu,
Bị người ác không thích.
(Pháp Cú 77)
()()()
"Kalayanamittata - Tư cách người có bạn lành.
Phạn-ngữ dùng tiếng Mitta (bạn) ấy do tiếng Metta nghĩa là Từ, ý nói người gọi là bạn thì thương yêu nhau giúp đỡ nhau tận tình do nơi lòng Từ.
Sự thân cận là một điều rất quan trọng và rất nguy-hiểm cho mình, nếu mình không biết rõ được người ấy là người có thành tích thế nào. Nếu gặp người bạn thành tích bất hảo thì mình cũng bị ảnh hưởng ấy. Khi có bạn không lành thì bực Trí thức sẽ không thích giao thiệp với ta, và các Ngài biết người bạn của ta chẳng tốt, đó là ảnh hưởng của bạn.
Có bốn hạng bạn không nên gần:
a. Annadattuharo: Người nào chỉ biết lo lợi ích riêng cho mình, không nghĩ và lo cho bạn.
b. Vaciparamo: Bạn nào chỉ biết nói tốt ngoài miệng thôi.
c. Anupiyabhani: Người bạn nào chỉ biết xua nịnh theo thôi.
d. Apayasahayo: Người nào thường dắt dẫn mình đi tới đường trụy lạc như cờ bạc, rượu trà, đàng điếm.
Người bạn nên thân cận có 7 pháp:
a. Duddadam dadati: Cho vật mà người khó cho được. Ý nói Người bạn ấy có thể cho đồ quý giá mà không ai có thể cho được.
b. Dukaram Karoti: Làm việc mà người khác không thể cho được, ý nói Người bạn ấy hết lòng giúp việc cho bạn mình, không nề khó khăn cực nhọc.
c. Dukkharam Khamati: Nhẫn nại với việc làm hay lý do nào khác mà người khác không thể nhẫn nại được; ý nói người bạn ấy nhẫn nại mọi việc và tất cả những lời nói nào mà bạn mình lỡ nói nặng khi nóng giận.
d. Guyhamassa arikaroti: Chỉ bảo sự Bí mật cho bạn. Ý nói biết bạn mình không biết bí mật quan trọng gì sắp xảy đến, nên chỉ cho biết để tránh xa những điều tai hại, giữ mình.
e. Guyhamassa pariguhati: Che dấu sự bí mật của bạn. Ý nói không bao giờ nói chuyện bí mật của bạn mình cho ai biết.
f. Apadasu na jahatu: Không bỏ bạn khi có tai nạn hay sự bị hao tài sản. Ý nói luôn luôn giúp đỡ hy sinh cho bạn khi bạn bị tai nạn hay suy sụp.
g. Khila nati manneti: Không khinh bỉ bạn khi bạn bị thất vận nghèo khó. Ý nói dầu bạn có bị tai-nạn trở nên nghèo khó cũng không bao giờ bỏ.
Bạn nào có những hạnh cao quí như vậy nên giao-thiệp, còn người có những điều xấu nên xa lánh, vì gần bạn nào cũng bị ảnh hưởng của người bạn ấy.
Chẳng những người ta phải bị ảnh hưởng của bạn mà thôi, khi con thú gần với người Thiện, Ác cũng bị ảnh hưởng ấy..."
Trích: 38 Pháp Hạnh Phúc
Namo Buddhaya.
02/12/2024
"...Tất cả pháp thế gian đều là BÀI HỌC cho sự giác ngộ giải thoát...Nếu qua đó con biết QUAN SÁT - biết CHIÊM NGHIỆM cho THẤU ĐÁO để thấy ra được BẢN CHẤT THẬT nơi chính con và CUỘC SỐNG. Đừng sống theo một QUAN NIỆM nào hay đừng VỘI KẾT LUẬN điều gì là ĐÚNG hay SAI. Trong đúng có sai, trong THIỆN có ÁC trong TỐT có XẤU, trong PHÚC có HỌA v.v...và ngược lại. Vậy - hãy sống chiêm nghiệm TỪNG GIÂY TỪNG PHÚT -hãy nhìn THẤY MỌI SỰ luôn luôn MỚI MẺ, không có cái đúng cái sai nào RẬP KHUÔN được cả. Cái gì ĐƯA VÀO KHUÔN thì nó bị ĐÓNG CỨNG lại rồi đâu còn là CHÂN LÝ SINH ĐỘNG nữa? Con hãy NHỚ RẰNG:
- cái ĐÚNG của người này CÓ THỂ LÀ CÁI SAI của người kia và
- cái ĐÚNG HÔM NAY có thể là cái SAI NGÀY MAI và ngược lại.
Hãy chú tâm...LẮNG NGHE - QUAN SÁT thật THẬN TRỌNG để thấy biết MỌI SỰ mọi VIỆC...
()()()
"QUÊN mất chính MÌNH" là QUÊN tình trạng (trạng thái, thái độ, tư thế...) HIỆN THỜI của mình.
- Ví dụ bạn ĐANG ĐI BỘ nhưng lại QUÊN mình ĐANG BƯỚC đi trên đường mà Ý TƯỞNG đang LANG THANG đi TÌM lại hình ẢNH một người bạn hôm qua mới quen ngoài cổng trường. Lúc đó bạn QUÊN MÌNH ĐANG BƯỚC, quên sự XÚC CHẠM trên mặt đường, QUÊN TƯ THẾ đang đi... chỉ thấy HÌNH ẢNH ẢO đang nói chuyện với NGƯỜI BẠN mới một cách RẤT HÀO HỨNG mà thôi. BỖNG NHIÊN...một người gọi bạn mới GIẬT MÌNH TRỞ LẠI với toàn bộ HIỆN TRẠNG đi lúc đó.
- Sự LANG THANG CỦA TÂM TƯỞNG theo hình ảnh ẢO BÊN NGOÀI gọi là BUÔNG LUNG.
- Sự QUÊN MẤT HIỆN TRẠNG ĐANG LÀ gọi là THẤT NIỆM. Và sự KHÔNG BIẾT mình trong tình trạng HIỆN TẠI gọi là KHÔNG TỈNH GIÁC.
Ba tình trạng trên đều BIỂU HIỆN sự "quên mất chính mình".
Vậy
- TRỞ VỀ với tình trạng HIỆN ĐANG LÀ gọi là TINH TẤN (Viriya).
- Trọn vẹn với hiện trạng của THÂN-TÂM gọi là CHÁNH NIỆM(Sammāsati) Và thấy, nghe, cảm giác...
- BIẾT RÕ ràng chính mình trong THỰC TRẠNG: TẠI ĐÂY VÀ BÂY GIỜ gọi là TỈNH GIÁC(Sampajānā)
Lúc nào TÂM bạn rỗng lặng, KHÔNG VỌNG ĐỘNG, không bị CHI PHỐI hay ÁM ẢNH bởi điều gì thì nó sẽ rất TRONG SÁNG...và nó có thể THẤY BIẾT mọi sự RÕ RÀNG TRUNG THỰC...
(HT. Viên Minh)
Trungtamhotong.org
*****
"...Đã khi nào bạn tức giận hay chưa?
Khi bạn tức giận và nghĩ " tôi đang tức đây" thì điều gì sẽ xãy ra? Cái giận sẽ càng tăng. Sân hận sẽ tăng nếu bạn sở hữu nó với ý nghĩ: "Đây là cái sân của tôi".
Khi buồn, mọi người nói:"Tôi buồn quá, tôi cảm thấy chán quá!", thì họ sẽ thực sự bị buồn chán và trầm cảm. Tại sao vậy? Bởi vì cái thái độ và suy nghĩ cho rằng cái buồn đó là cái buồn của họ. Nếu bạn nhìn cái buồn đó chỉ như một trạng thái tự nhiên của tâm, thì bạn sẽ cảm thấy tốt hơn rất nhiều...Cái tâm đang buồn, chứ không phải "TÂM CỦA TÔI" buồn.
(Thiền Sư U.Tejaniya)
Mô Phật ()()()
16/11/2024
Cầu nguyện? Thờ cúng?
"...Trong Phật giáo không có cầu nguyện theo nghĩa cầu xin được ban ơn, xá tội"
- Trong các tôn giáo tin tưởng và thờ phụng Thượng Đế (mà họ tin là đấng tối cao, toàn năng, toàn thiện, toàn tri đã dựng nên thế gian và được coi là Đấng Tạo Hóa hay Thủy Tổ của muôn loài), cầu nguyện có nghĩa là thỉnh cầu ở nơi Ngài một sự chỉ đạo, hộ trì hoặc cầu xin Ngài ban cho sức khỏe, hạnh phúc, thịnh vượng, bình an và đôi khi xin Ngài tha thứ những tội lỗi đã vi phạm.
- Chúng ta có thể nói ngay rằng, vì người Phật tử không tin tưởng nơi thần linh hay bất cứ một đấng quyền uy ban phúc giáng họa nào, nên cầu nguyện cũng không có ý nghĩa như trên.
- Mặt khác, Phật tử tin tưởng ở nghiệp lực theo đó hạnh phúc hay đau khổ đều là kết quả của hành động, lời nói, ý nghĩ mà mỗi cá nhân tạo ra có ý thức hay có chủ ý. Đó là một luật tự động vận hành chứ không do một ai hướng dẫn, sắp đặt hay an bài.
- Vì tự động vận chuyển theo một luật tắc nhất định nên nó không thể thiên vị, thương tình hay tội nghiệp mà tha thứ cho những ai vi phạm.
- Cũng theo luật này (nghiệp) tội lỗi không thể được tha thứ bởi một uy lực bên ngoài, mà chỉ được sửa sai bằng tâm hồi đầu hướng thiện. Bởi vì tội lỗi theo Phật giáo không phải gây ra do vi phạm hay bất tuân những quy định của một đấng quyền uy nào, mà chính vì tự mình hành động sai lầm qua thân, khẩu, ý đưa đến ô nhiễm, phiền não và khổ đau cho mình và người.
- Như vậy trong Phật giáo không có cầu nguyện theo nghĩa cầu xin được ban ơn, xá tội, vì mỗi người phải chịu trách nhiệm với chính mình chứ không ai khác về những hành động tội, phước, lành, dữ do mình tạo ra.
Thế thì người Phật tử làm gì khi đến chùa?
Nếu là Phật tử chân chính chắc chắn họ không đến chùa chỉ để cầu nguyện gì đó cho mình.
- Chúng ta hãy theo dõi những người Phật tử đến viếng chùa để xem họ hành động như thế nào và ý nghĩa hành động ấy ra sao.
- Trong Phật giáo không ai buộc Phật tử phải đến chùa vào một ngày nhất định, họ có thể đến lúc nào họ muốn, nhưng phần đông Phật tử đi chùa vào những ngày lễ sám hối, rằm và ba mươi, hoặc những ngày trai giới, vì phần lớn quần chúng thích tập thể hơn là đơn độc.
- Họ thường mặc áo trắng, lam hay nâu vì đó là những màu sắc tượng trưng cho tinh khiết, giản dị và khiêm nhường.
- Họ đem cả hương, đèn, trầm và hoa quả, kính cẩn đi vào chánh điện, nơi đó một tượng Phật uy nghi được tôn trí ở chỗ cao trọng nhất và thành kính dâng những lễ vật lên Đức Phật.
- Hình tượng tự nó không phải là vật thờ cúng mà chỉ là hình ảnh tượng trưng cho họ dễ tưởng niệm đến Đức Phật. Thực ra dù có hình tượng hay không họ cũng tôn thờ Đức Phật, hình tượng chỉ có tác dụng giúp họ dễ chú ý và định tâm hơn. Vì thế, tuy dùng hình tượng để thờ cúng nhưng người Phật tử không có thái độ như những tín đồ vật tổ giáo, thờ cúng những vật hay những biểu tượng mà họ cho là linh thiêng có thể chứng giám cho những lời cầu của họ. Nên đạo Phật không phải là tôn giáo chủ trương thờ cúng hình tượng như một số tôn giáo khác.
Một điểm đáng chú ý nữa là người Phật tử lễ bái tượng Phật không có nghĩa là họ tin rằng Đức Phật sau khi nhập diệt vẫn còn hiện diện trên thế gian, để thị hiện trong các pho tượng khiến cho các pho tượng này trở nên linh ứng có thể hộ trì cho những người lễ bái hay quở phạt những người bất tôn kính đối với Ngài. Hình tượng chỉ có thể nhắc nhở lại những hình ảnh sống động lúc Đức Phật còn tại thế, như lúc tham thiền nhập định, lúc thành đạo, lúc chuyển pháp luân, lúc nhập diệt v.v. khiến cho người Phật tử có cảm tưởng như Đức Từ Phụ đang hiện diện để sách tấn họ siêng năng tu tập. Cũng vì thế mà việc đắp tượng phải làm thế nào để diễn tả được những đức tính trí tuệ và từ bi… của Đức Phật, nếu không hình tượng có thể làm sai lạc trí tưởng tưởng của người sơ cơ.
Mặc dù Đức Phật đã nhập diệt nhưng đời sống và giáo pháp của Ngài vẫn còn có một ảnh hưởng lớn lao đối với nhân loại ngày nay, ảnh hưởng đó sống động và thực tế đến nỗi người Phật tử có cảm tưởng như Đức Phật còn tại thế, có người muốn biến cảm tưởng đó thành sự thật bằng cách cúng cả vật thực đến Đức Phật mặc dù họ thừa biết rằng Ngài không thọ dụng.
Linh động hóa như vậy rất hữu ích và người Phật tử càng vững tin và tinh tấn trên đường đạo, đồng thời sự thờ cúng càng tăng thêm ấm cúng và trang nghiêm. Đó là một cách để chứng tỏ rằng ảnh hưởng của Đức Phật đối với con người mọi thời vẫn mạnh mẽ không kém thời nguyên thủy.
Theo thông lệ, cúng dường đèn, hương, hoa quả là một hành động tỏ dấu kính trọng tôn thờ hay tri ân chứ thực ra những vật cúng dường ấy tự nó không có giá trị đặc biệt nào. Đi xa hơn những thông lệ ấy, người Phật tử có một thái độ sáng suốt hơn chỉ là thuần hành động thờ cúng. Như khi dâng hoa trước đài sen người Phật tử suy nghĩ đến chân tướng vô thường của vạn hữu qua bài kệ mà họ thường đọc:
Dâng hoa cúng đến Phật đà
Nguyện mau giải thoát sinh, già, khổ đau.
Hoa tươi nhưng sẽ úa sầu.
Tấm thân tứ đại tránh sao điêu tàn.
Bài kệ trên chứng tỏ người Phật tử khi dâng cúng hay tụng niệm không cầu xin được hộ trì hay ban phước, nhưng đến với Đức Phật như người đệ tử kính mến bậc đạo sư và nguyện theo gương Ngài để sớm thoát khỏi khổ ải trầm luân.
Chúng ta nên lưu ý đến sự khác biệt giữa thái độ của một tín đồ thờ thần linh và một người Phật tử khi họ cùng kính cẩn nghiêng mình trước giáo chủ của họ. Trong khi tín đồ thờ thần linh cầu xin được ban phước hay cứu rỗi, nghĩa là đời đời họ muốn làm nô lệ cho thần linh hay thượng đế của họ. Người Phật tử trái lại, kính cẩn tôn thờ Đức Phật chỉ vì Ngài là người đã đi trước, là người hướng đạo, chứ họ không muốn làm nô lệ Ngài. Họ cũng cố gắng để được giải thoát, được chứng ngộ Phật quả như Ngài. Vì vậy tuy tôn kính Đức Phật nhưng người Phật tử vẫn được quyền bình đẳng với Ngài trong lãnh vực giác ngộ.
Thầy viên Minh
Trungtamhotong.org
Nghe trên kênh Youtube
Phật giáo và sự thờ cúng; https://youtu.be/KyPHgkphQZU
Lành thay ()()()
Click here to claim your Sponsored Listing.