HEFA CLUB
TƯ VẤN SỨC KHỎE, DINH DƯỠNG QUA TEST VÂN TAY & NHÓM MÁU
11/01/2020
TEST VÂN TAY ĐỂ PHÁT HIỆN SỚM CÁC NGUY CƠ BỆNH - GIÚP SỐNG KHỎE, TRẺ LÂU, TÂM THOẢI MÁI
16/08/2019
SỨC KHỎE LÀ VÀNG!!!
PHÒNG NGỪA BỆNH DỊ ỨNG Ở TRẺ EM
Ths. BS Lê Thị Hải
Viện Dinh dưỡng Trung ương
Tuổi nào cũng có nguy cơ mắc dị ứng, nhưng riêng trẻ nhỏ thì dễ bị dị ứng từ đường tiêu hoá do sự phát triển của hệ thống tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, đặc biệt là ở trẻ từ 3 – 6 tuổi … Do vậy các bậc cha mẹ cần chú ý để phòng ngừa cho trẻ.
Dị ứng là phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân “lạ” từ bên ngoài thường được gọi là kháng nguyên. Bình thường trong cơ thể luôn có các thành phần bảo vệ gọi là kháng thể, Khi có kháng nguyên xâm nhập thì lập tức các kháng thể sẽ chống lại ngay để bảo vệ cho cơ thể. Sự phản ứng quá mức giữa kháng nguyên và kháng thể sẽ tạo ra dị ứng.
Các kháng nguyên ở đây có thể là: thực phẩm, thuốc, phấn hoa, bụi bặm, các loại nọc độc côn trùng,… hay đôi khi chỉ đơn giản là sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ môi trường. Chúng có thể tiếp xúc với cơ thể qua nhiều đường: qua da, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa. Đặc biệt, sự xâm nhập qua đường tiêu hoá thực sự là mối hiểm nguy do diện tích tiếp xúc của niêm mạc đường tiêu hóa lớn hơn nhiều so với đường hô hấp và da.
Biểu hiện của dị ứng rất đa dạng và với nhiều mức độ khác nhau. Thông thường là biểu hiện ngoài da như nổi mẩn ngứa, đỏ da, nổi mề đay, hoặc chàm, viêm da cơ địa. Hoặc có thể là đột ngột sổ mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, ho khan liên hồi, khò khè, khó thở. Biểu hiện ở đường tiêu hoá thường gặp nhưng triệu chứng không điển hình và dễ bị bỏ qua như: nôn mửa, ỉa lỏng, hoặc nặng hơn là nôn ra máu, dạng nặng nhất của dị ứng là sốc phản vệ: người bị dị ứng có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.
Tuổi nào cũng có nguy cơ mắc dị ứng, nhưng riêng trẻ nhỏ thì dễ bị dị ứng từ đường tiêu hoá do sự phát triển của hệ thống tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, và lần đầu trong đời tiếp xúc với các loại thức ăn khác nhau cũng chính là lần đầu tiếp xúc với các kháng nguyên.
Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng dị ứng từ đường tiêu hoá ở trẻ nhỏ càng dễ xảy ra nếu trẻ không được bú mẹ trong những tháng đầu đời. Sữa bò là tác nhân gây dị ứng thường gặp nhất ở trẻ nhỏ. Trẻ thường hay bị dị ứng với đạm của sữa bò các biẻu hiện thường gặp là : nổi mẩn đỏ quanh miệng và môi, có những trẻ sữa rớt ra đến đâu ở đó nổi mẩn đỏ, một số trẻ biểu hiện bằng tiêu chảy hoặc nôn. Trong trường hợp này tốt nhất chỉ cho trẻ bú mẹ, nếu mẹ không có sữa phải chuyển sang uống sữa đậu nành, hoặc sữa đạm thuỷ phân.
Trẻ bị dị ứng thường có tính chất gia đình. Nếu một trong hai, cha hoặc mẹ có tiền sử dị ứng thì con có 25-30% khả năng bị bệnh này, và con số trên sẽ tăng lên 50-80% nếu cả hai cha mẹ đều có tiền sử dị ứng. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là nếu cha mẹ không dị ứng thì con cũng không bị. Ngay cả khi cả cha lẫn mẹ đều không có tiền sử dị ứng thì đứa trẻ vẫn có 15% khả năng dễ mắc dị ứng.
Phòng ngừa dị ứng bằng cách nào cách nào?
Nếu trẻ thuộc cơ địa dị ứng (dị ứng có tính chất gia đình) thì việc phòng ngừa rất khó khăn, tuy nhiên một số trường hợp cũng có thể phòng được bằng cách:
- Lúc mang thai, bà mẹ nên có chế độ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, không được hút thuốc, không uống rượu bia.
- Ngay sau khi sinh, con phải được bú mẹ sớm và tiếp tục bú mẹ ít nhất trong 6 tháng đầu.
- Thức ăn bổ sung chỉ nên cho ăn khi bé đã 6 tháng tuổi, lúc này đường tiêu hoá của bé đã tương đối hoàn chỉnh và sẵn sàng tiếp nhận các dạng thức ăn mới ngoài sữa. Khi ăn nên tập cho trẻ ăn dần với thức ăn mới, các chất đạm có nguồn gốc từ thuỷ hải sản như tôm, cua, cá nên cho ăn khi trẻ đã 7 tháng tuổi, bắt đầu ăn ít một, sau đó mới tăng dần lên. Trẻ cần được sống trong môi trường trong lành, ít bụi bặm, không khói than, không khói thuốc .
- Nếu vì lý do nào đó mà trẻ không được bú mẹ hoặc cần bổ sung thêm sữa ngoài sữa mẹ, nếu khi uống sữa ngoài mà trẻ có biểu hiện dị ứng thì nên chuyển uống sữa đậu nành hoặc sữa giảm dị ứng (ký hiệu là H.A – hypoallergenic) . Sữa có tác dụng giảm dị ứng là do đạm trong sữa đã được thủy phân thành các axit amin, hay nói cách khác là các chất đạm đã được cắt nhỏ ra. Đạm càng lớn thì càng dễ gây dị ứng, đạm càng cắt nhỏ thì càng ít gây dị ứng. Ngoài ra, sữa được bổ sung probiotics (các vi khuẩn có lợi cho đường tiêu hoá), cho trẻ ăn sữa chua hằng ngày cũng góp phần làm giảm dị ứng ở trẻ, vì bổ sung probiotics trong chế độ ăn của trẻ đã được chứng minh là một trong những phương pháp phòng ngừa dị ứng hiệu quả.
MỘT SỐ THĂM DÒ CẦN THIẾT TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
Chẩn đáon trước sinh là phương pháp chẩn đoán được áp dụng khá rộng rãi và một cách khá hệ thống ở nước ta hiện nay, với mục đích phát hiện sớm những bất thường về hình thái thai nhi, những bất thường về nhiễm sắc thể của thai… giúp các bà mẹ cho ra đời những em bé khỏe mạnh, có hình thái bình thường.
Các phương pháp thăm dò thường được áp dụng hiện nay là:
- Siêu âm
- Test sàng lọc (Triple test)
- Lấy bệnh phẩm của thai
1. Phương pháp siêu âm
Siêu âm là phương pháp được áp dụng khá rộng rãi. Cho đến nay chưa có tài liệu nào nói về sự nguy hại của siêu âm đối với thai nhi. Người ta có thể siêu âm ở bất kỳ tuổi thai nào. Thông thường người ta siêu âm trong quý đầu của thai kỳ để xác định việc có thai, số lượng thai, sự sống của thai, đánh giá tuổi thai, đánh giá hình thái của thai, đo khoảng sáng sau gáy. Siêu âm đo khoảng sáng sau gáy là một chỉ tiêu quan trọng trong chẩn đoán trước sinh.
- Khoảng sáng sau gáy hay còn gọi là độ dày da gáy hay độ mờ da gáy là hình ảnh mô tả sự tích tụ dịch dưới da gáy phía sau cổ thai nhi.
- Tuổi thai đo đọ dày da gáy tốt nhất là tuần thứ 11 đến tuần thứ 13 + 6 ngày hoặc thai có chiều dài đầu mông từ 45 đến 84mm.
- Độ dày da gáy ở thai nhi bình thường là 1,2 đến 2,5mm.
- Nếu độ dày da gáy từ 2,5 đến 3mm: phải đo lại sau 01 tuần.
- Nếu độ dày da gáy ≥ 3mm được coi là độ dày da gáy bệnh lý, thai nhi có nguy cơ bị các bệnh rối loạn nhiễm sắc thể (bệnh Down) hoặc các dị tật bẩm sinh khác. Nguy cơ này tăng cao ở những thai phụ lớn tuổi (≥ 35 tuổi), tiền sử đẻ con dị tật hoặc mắc bệnh Down, tiền sử sảy thau, thai chết lưu nhiều lần…
Siêu âm ở quý II của thai kỳ (tuần từ 18 đến 22) và siêu âm ở quý III (tuần từ 30 đến 32) giúp phát hiện một số dị tật bẩm sinh khác của thai nhi.
2. Test sàng lọc ( Triple Test)
Test sàng lọc là phương pháp kiểm tra thai nhi thông qua máu mẹ dựa vào một số chất được sinh ra từ bánh rau của thai nhi đi vào trong tuần hoàn của mẹ như Anpha Feto Protein (AFP), Human Chorionic Gonadopropin (hCG), Unconjugated Estriol (UE3).
Test sàng lọc được thực hiện ở tuổi thai từ tuần thứ 14 đến 19 + 6 ngày, sau khi có kết quả siêu âm 3 tháng đầu. Người ta dựa vào sự thay đổi nồng độ của các chất trên trong huyết thanh người mẹ để đánh giá thai nhi có nguy cơ bị bệnh Down, các bệnh dị tật nhiễm sắc thể, các dị tật ống thần kinh hay không.
3. Lấy bệnh phẩm của thai (Chọc hút nước ối)
Chọc hút nước ối là phương pháp lấy bệnh phẩm thai nhi. Trong nước ối có chứa các tế bào b**g của thai nhi (như tế bào biểu bì, tế bào đường hô hấp, đường tiết niệu…). Các tế bào này có thể nuôi cấy và phát triển trong ống nghiệm. Phân tích các tế bào trong nước ối có thể giúp chaane đoán các bệnh lý nhiễm sắc thể của thai, các dị tật của thai, đặc biệt là bệnh lý Nhiễm sắc thể 21 (bệnh Down).
Chọc hút nước ối là phương pháp đơn giản về kỹ thuật, có thể thực hiện ở mọi tuổi thai, nhưng tốt nhất là ở tuổi thai từ 16 đến 20 tuần.
Các chỉ định chọc hút nước ối:
- Tuổi của người mẹ cao (≥ 35 tuổi)
- Test sàng lọc trước sinh dương tính (nguy cơ thai nhi mắc bệnh Down > 1/250)
- Có bất thường về hình thái trên siêu âm
- Tăng khoảng sáng sau gáy (≥ 3mm) ở thai tuần 12
- Tiền sử để con bị bệnh Down hoặc các bệnh lý di truyền
- Có thể kết hợp tất cả các yếu tố trên.
Biến chứng của chọc hút nước ối rất thấp; gây sảy thai, đẻ non xấp xỉ 1-2%; chảy nước ối ở vị trí chọc kim: 2%; gây nhiễm trùng cho mẹ chiếm tỷ lệ rất thấp.
Thăm dò chẩn đoán trước sinh hiện nay có thể được áp dụng rộng rãi cho toàn thể các bà mẹ mang thai, đặc biệt là cho các bà mẹ có nguy cơ cao (lớn tuổi, tiền sử sản khoa nặng nề…)
Với những trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, với đội ngũ những thày thuốc có kinh nghiệm, các trung tâm chẩn đoán trước sinh sẽ giúp các ông bố, bà mẹ phát hiện những bất thường rất sớm của thai nhi, tư vấn quyết định loại bỏ sớm những thai nhi bất thường, cho ra đời những đứa trẻ khỏe mạnh.
Bác sĩ CK II Phan Văn Quý
Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Vi khuẩn kháng thuốc - nỗi lo của nhiều người!
Các nhà khoa học gần đây đã lên tiếng cảnh báo về sự xuất hiện của một loại vi khuẩn mới (vi khuẩn NDM-1 (New Delhi metallo-lactamase-1) có khả năng chống lại tất cả các loại thuốc kháng sinh và nguy cơ lây lan trên khắp thế giới … đã làm tăng thêm nỗi sợ hãi cho nhiều người. Không chỉ có NDM-1, các nhà vi sinh học Anh khẳng định có ít nhất 5 loại vi khuẩn kháng kháng sinh và chưa có 1 loại kháng sinh mới nào có thể tiêu diệt được chúng.
Kháng sinh là một chất dùng để ức chế sự phát triển của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Việc sử dụng kháng sinh không đúng sẽ gây hại cho cơ thể, đặc biệt gây tình trạng vi khuẩn kháng lại nhiều thuốc kháng sinh, người ta gọi là đa kháng thuốc như vi khuẩn MRSA (khuẩn Staphyloccocus aureus kháng thuốc họ methicillin), P. aeruginosa, E.coli, Klebsialla pneumonia, Acinebacter … là nguyên nhân gây tử vong rất cao ở trong bệnh viện.
Nguyên nhân gây vi khuẩn kháng thuốc
• Lạm dụng kháng sinh (bác sĩ kê đơn không đúng chỉ định, bệnh nhân tự mua thuốc điều trị) trong những trường hợp không cần thiết như sốt virus, cảm thông thường, nấm, các bệnh do nguyên nhân dị ứng.
• Do việc sử dụng kháng sinh không đủ liều, không đủ ngày và không đúng với loại kháng sinh mà vi khuẩn nhạy cảm.
• Do biến đổi gen của vi khuẩn.
• Ngoài nguyên nhân dùng thuốc kháng sinh không đúng, việc sử dụng nhiều hải sản và thịt động vật dư thừa kháng sinh cũng là lý do khiến gia tăng tình trạng vi khuẩn nhờn thuốc...
Biện pháp hạn chế vi khuẩn kháng thuốc
• Sử dụng kháng sinh hợp lý điều trị các bệnh nhiễm khuẩn (không dùng trong các bệnh do virus, nấm).
• Làm kháng sinh đồ để lựa chọn kháng sinh vi khuẩn gây bệnh còn nhạy cảm.
• Nên chọn kháng sinh phổ hẹp
• Dùng đủ liều lượng, đúng thời gian, đúng đường dùng. Điều quan trọng là phải uống đủ liều vì chỉ như thế vi khuẩn mới bị tiêu diệt hoàn toàn, không thể lẩn trốn sâu trong các tế bào để tiếp tục sinh sản.
• Tránh lây lan (đảm bảo các khâu vô trùng và diệt trùng) trong gia đình và cộng đồng
• Khi cần thiết phải phối hợp kháng sinh đúng, không có tương tác bất lợi.
Cách phòng tránh
• Hạn chế cho trẻ đi lại ở những vùng có dịch bệnh hoặc nguy cơ như bệnh viện, tiếp xúc với người ốm, nếu buộc phải tới, hãy tắm rửa ngay sau khi rời bệnh viện, phòng khám.
• Rửa tay thường xuyên, đặc biệt là sau khi ở các nơi công cộng. Vi khuẩn thường tụ tập ở các tủ hàng, nắm đấm cửa. Đừng bao giờ cho trẻ đưa tay lên miệng cho tới khi bạn có thể rửa tay sạch cho trẻ.
• Tăng cường miễn dịch bằng các biện pháp chế độ dinh dưỡng chăm sóc đầy đủ (bú sữa mẹ, tiêm phòng, uống các vitamin).
Nhìn nhận thế nào cho đúng?
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng đây chưa phải là một đại dịch vì số lượng trường hợp nhiễm khuẩn rất nhỏ. Tuy nhiên, những viễn cảnh về các trường hợp không thể điều trị bằng kháng sinh đang ngày càng trở thành hiện thực. Vấn đề nâng cao tinh thần cảnh giác và thực hiện tốt các biện pháp phòng tránh sẽ làm giảm nguy cơ lan truyền các mầm bệnh kháng thuốc nguy hiểm.
Chúc gia đình bạn và bé có sức khỏe tốt để đón năm học mới!
Ts. Lê Minh Hương
Bệnh viện Nhi Trung ương
GIÚP TRẺ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
(Chia sẻ của mẹ MC - CLB Gia đình trẻ TK Hà Nội - hiện đang sinh sống tại Đức)
Ngay khi bé chào đời, cha mẹ nên trò chuyện với bé thường xuyên. Thực ra, khi bé còn trong bụng mẹ, bé đã có khả năng nghe tiếng. Đó là lý do vì sao bé quen nhất với giọng nói của mẹ.
• Khi bé u ơ, bập bẹ, cha mẹ hãy đáp lời bé. Hãy bắt chước những âm thanh của bé, rồi “sản xuất” cũng âm thanh ấy với các cung bậc cao thấp khác nhau. Thí dụ, bé nói “u…”, mẹ hay bố cũng nói “u,” rồi “ù,” “ú,” “ụ”. Khi chơi với bé nên dùng các bài thơ ngắn hoặc những bài đồng dao để luyện cho bé nhịp điệu, sự kết hợp mắt, tay một cách khéo léo.
• Hãy kiên nhẫn nghe bé nói. Khi các bé “u, ơ”, đó là lúc bé học nói chuyện. Hãy kiên nhẫn chờ bé u ơ xong, rồi đáp lời bé. Khi bé biết nói, bé có thể nói lắp đôi chút vì còn phải sắp xếp câu chữ, lúc này cha mẹ hãy kiên nhẫn chờ bé nói cho xong. Nếu cần, cha mẹ có thể nhắc câu cho bé, nhưng hãy đếm từ 1 đến 5 hay đến 10 trước khi nhắc. Hãy nhìn mắt bé khi bé u ơ, bập bẹ, hay nói. Mắt nhìn mắt là yếu tố quan trọng khi chuyện trò với người khác.
• Khuyến khích bé kể chuyện. Đừng ép buộc quá đáng để bé phải nói. Nhiều phụ huynh, thường buộc trẻ phải chào người lớn. Ở tuổi nhất định, bé có cảm giác riêng, và đôi khi bé mắc cỡ, bé không vui hay không cảm thấy an toàn trước ai đó. Lúc ấy, bé sẽ từ chối lên tiếng, dù chỉ là “chào bác, chào chị.” Xin đừng dọa nạt, la mắng bé vì như vậy sẽ chỉ làm tình thế rối hơn. Hãy tìm một cử chỉ gì để bé thay thế tiếng chào, thí dụ vẫy tay, chớp mắt. (Việc bắt tay cũng khó như lên tiếng, vì bắt tay là đụng chạm đến người mà bé chưa sẵn sàng làm quen).
• Cố gắng dành thời gian đọc truyện tranh cho bé nghe. Ông bà nội ngoại thường kể chuyện cổ tích. Đây là hoạt động tích cực để làm mẫu về ngôn ngữ, tiếng nói. Đây cũng là hoạt động để các bé học về cách xây dựng một câu chuyện với chi tiết, cao trào, nhân vật,…
• Hát cho bé nghe và dạy cho bé hát. Học hát là lúc bé học thêm từ mới, đặc biệt ngôn từ trong bài hát là ngôn từ văn chương. Bé cũng được luyện trí nhớ để nhớ lời, luyện khả năng nghe và ghi nhớ âm thanh, học cách diễn tả ý tưởng bằng ngôn từ.
• Nối lời cho bé. Nếu bé nói “kẹo,” hãy làm mẫu “Con muốn kẹo phải không?”
• Liên tục nói với bé. Khi bồng bé trên tay pha sữa, hãy nói “Mẹ đang pha sữa này. Mẹ đổ nước nóng này. Bây giờ mẹ đổ bột này. Còn bây giờ thì mẹ con mình lắc bình lên này…”
• Hãy cố gắng dành thời gian trả lời những câu hỏi của bé. Thực sự, đây không phải việc dễ thực hiện. Cha mẹ vất vả suốt ngày với công việc, khi về nhà còn phải lo lắng nhà cửa, cơm nước… Khi bé quấn quýt hỏi 1001 câu hỏi, rất dễ bực mình: “Con nói nhiều quá vậy con? Con ngồi yên 5 phút được không?” Thái độ này chính là từ chối một dịp học hỏi của bé, và đẩy bé vào khoảng không gian cô độc.
• Hoà mình vào những mối quan tâm của bé. Bé thích nói về công chúa, hoàng tử, hãy nói với bé về công chúa, hoàng tử.
• Hỏi bé thật nhiều câu hỏi, và dậy bé cách trả lời. Đó có thể là câu hỏi đơn giản: “Con tên gì?” “Con tên Mai”. Đó có thể là câu hỏi phức tạp: Nếu cô giáo hỏi “Tại sao hôm qua con không đi nhà trẻ, con nói sao?” Con hãy nói là “Vì con phải đi thăm bà ngoại bị ốm”…
• Dùng thú nhồi bông hay con rối để dạy bé đóng các vai khác nhau. Hoạt động này dạy bé cách sử dụng nhiều âm giọng. Đặc biệt, bé sẽ biết “giả bộ,” một trong những kỹ năng rất cần thiết mà một trẻ tự kỷ không hề có. Đây cũng là cách để cha mẹ dạyy bé một bài học đạo đức nào đó. Ví dụ gấu mẹ buồn vì gấu con không chịu ăn cơm mà chỉ ăn kẹo…
• Tạo cơ hội cho bé chơi với những trẻ đồng tuổi có khả năng ngôn ngữ khá hơn.
THIỂU NĂNG TUẦN HOÀN NÃO
Thiểu năng tuần hoàn não là tình trạng bệnh lý do thiếu máu nuôi dưỡng não vì lưu lượng máu đến não thấp, phổ biến ở người cao tuổi nên gọi là thiểu năng tuần hoàn não người già. Não là cơ quan đầu não, chỉ huy toàn bộ hoạt động của cơ thể. Nhu cầu oxy và dưỡng chất của não rất lớn, nếu thiếu oxy não quá 5 phút, tổ chức não vùng thiếu máu sẽ chết không hồi phục. Bệnh thực chất là thiểu năng tuần hoàn mạch máu hệ động mạch sống nền. Nguyên nhân gây ra thiểu năng mạch máu não là do xơ vữa mạch ( rối loạn mỡ máu tạo thành các mảng xơ vữa làm hẹp lòng mạch). Rối loạn vận mạch do lão hóa làm thành mạch không co giãn, điều hòa kịp dòng máu lên não cho phù hợp với các thay đổi đột ngột về nhu cầu tưới máu là một nguyên nhân do tuổi già. Thoái hóa khớp, đĩa đệm cột sống cổ cũng là nguyên nhân rất thường gặp gây ảnh hưởng đến hệ động máu sống nền, do các chồi xương, g*i xương chèn ép gây hẹp động mạch sống. Nguyên nhân này có tỉ lệ gia tăng theo tuổi tác. Ở người cao tuổi thường phối hợp nhiều nguyên nhân.
Thiểu năng tuần hoàn não có các biểu hiện hoa mắt, chóng mặt, nhất là khi thay đổi tư thế hoặc động tác quay cổ đột ngột. Triệu chứng thường gặp là đau đầu, đau ê ẩm hoặc cảm giác căng, nặng đầu, đau vai gáy có khi lan ra tay, hay gặp là đau vùng gáy chẩm. Người bệnh có khi bị dị cảm, có những cảm giác bất thường như tê bì, kiến bò, ớn lạnh hay nóng bừng. Mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, khả năng tập trung, hay quên, rối loạn giấc ngủ dai dẳng, khó điều trị là những triệu chứng của bệnh thiểu năng tuần hoàn não. Bệnh nhân có thể có những cơn ù tai, chóng mặt, mất thăng bằng, rối loạn về nhìn, thường được chẩn đoán là rối loạn tiền đình. Các triệu chứng này có thể xuất hiện từng lúc, từng đợt. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, triệu chứng xảy ra thường xuyên hơn, người bệnh có khi có những rối loạn về cảm xúc, thay đổi tính tình như hay nổi nóng, cáu giận, khó tính hoặc dễ mủi lòng, tủi thân, “trái tính, trái nết”. Biến chứng của bệnh là cơn tai biến mạch máu não thoáng qua hoặc tai biến thực sự.
Để chẩn đoán thiểu năng tuần hoàn hệ động mạch sống nền, cần phải thăm dò, đánh giá toàn diện, loại trừ các nguyên nhân gây đau đầu, chóng mặt khác như do u, migraine….Bệnh nhân cần được làm lưu huyết não, điện não, Siêu âm doppler mạch máu, chụp X-quang cột sống cổ ( tư thế thẳng, nghiêng, chếch ¾), nếu nghi ngờ có thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, cần chụp cộng hưởng từ để chẩn đoán xác định. Rối loạn mỡ máu và tình trạng xơ vữa, hẹp tắc lòng mạch cũng phải được đánh giá ở mọi bệnh nhân có triệu chứng của thiếu máu não. Xác định chính xác nguyên nhân là rất quan trọng để điều trị tận gốc và phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm có thể gây chết người.
Điều trị bao gồm cả điều trị nguyên nhân nếu có thể và điều trị triệu chứng. Người bệnh bị thoái hóa đốt sống cổ cần phải dùng thuốc điều trị thoái hóa khớp lâu dài, vật lý trị liệu và vận động trị liệu cột sống cổ, tập các động tác cúi, ngửa, quay cổ thường xuyên. Điều trị rối loạn mỡ máu và dùng thuốc chống huyết khối phòng ngừa tắc mạch khi nguyên nhân là do xơ vữa mạch. Các thuốc điều trị triệu chứng bao gồm thuốc giảm đau, tăng cường tuần hoàn não, giãn mạch, tăng vững bền thành mạch…Bên cạnh việc dùng thuốc, lối sống cũng là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa và điều trị thiểu năng tuần hoàn não. Ngay từ trẻ nên chú ý đến việc tập luyện thể dục, ăn uống lành mạch để tăng cường dẻo dai cho hệ cơ xương, hạn chế thoái hóa khớp, giảm cân, tránh rối loạn mỡ máu, xơ vữa động mạch. Mọi người cần có chế độ sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi điều độ, tránh tư thế xấu trong lao động làm ảnh hưởng đến cột sống cổ. Người bị thiểu năng tuần hoàn nên tập động tác vận động cột sống cổ theo hướng dẫn của thầy thuốc vật lý trị liệu, nên nằm đầu thấp, tránh thay đổi tư thế đột ngột hoặc quay cổ đột ngột.
Căn bệnh này có thể gặp ở hầu hết người lớn tuổi nên cần phải được mọi gia đình và xã hội hiểu biết và quan tâm. Con cháu cần chăm sóc ông bà, cha mẹ trong nhà, thông cảm và động viên với những thay đổi hay gặp phải ở người già, giúp họ sống khỏe mạnh, vui vẻ hơn và tránh những tai biến nặng nề.
Bác sĩ Nguyễn Phương Mai
MÃN DỤC NAM
Mãn dục nam hay còn gọi là hội chứng suy giảm một phần hoóc môn sinh dục nam ở nam giới lớn tuổi (hội chứng PADAM) được định nghĩa là sự giảm nồng độ testosterone trong máu liên quan đến tuổi tác đi đối với các triệu chứng lâm sàng ở nam giới lớn tuổi.
Cũng như ở phụ nữ, nam giới đến tuổi trung niên cũng có giai đoạn suy giảm hoóc môn sinh dục nam (testosterone), là một giai đoạn sinh lý diễn ra tất yếu. Tuy nhiên, do không có rối loạn đặc biệt dễ nhận thấy như rối loạn kinh nguyệt và tắt kinh như ở phụ nữ nên giai đoạn này khó nhận biết hơn.
Người ta nhận thấy nồng độ testosterone đã bắt đầu giảm dần từ lứa tuổi gần 30. Có nghiên cứu cho thấy nồng độ hoóc môn sinh dục nam ở lứa tuổi 70 chỉ bằng một phần mười so với lứa tuổi 25. Từ khoảng 40 tuổi, sự giảm sút này bắt đầu thấy rõ. Tới quá nửa số nam giới ở độ tuổi 50 đã giảm rõ ràng lượng hoóc môn sinh dục trong máu. Không thể dự đoán trước hay chỉ ra chính xác thời điểm cũng như triệu chứng cụ thể của mãn dục ở nam giới.
Sự giảm sút nồng độ hoóc môn sinh dục nam không chỉ hiểu một cách đơn thuần là suy giảm chức năng tình dục mà còn phải được nhìn nhận một cách toàn diện , đặc biệt là các rối loạn kèm theo do hậu quả của việc giảm nồng độ testosterone. Các triệu chứng điển hình của hội chứng mãn dục nam bao gồm giảm ham muốn tình dục và khả năng cương dương, nhất là sự cương cứng dương vật về đêm. Giảm khối lượng và sức mạnh của cơ bắp, tăng cân, tăng khối lượng mỡ và thay đổi sự phân bố mỡ trong cơ thể, tập trung mỡ ở vùng bụng và các tạng là các thay đổi càng ngày càng thấy rõ theo tuổi tác. Các thay đổi tính tình, giảm trí nhớ, trầm cảm, mệt mỏi, mất ngủ nhiều khi được đổ lỗi cho công việc bận rộn hay căng thẳng. Cơn bốc hỏa, vã mồ hôi đêm không phải là “độc quyền” của phụ nữ tuổi mãn kinh mà nam giới cũng có thể gặp ở giai đoạn này. Một số triệu chứng khác cũng có thể thấy như rụng tóc, vú to, rối loạn tiểu tiện…Cũng giống như ở phụ nữ, suy giảm hoóc môn sinh dục ở nam giới lớn tuổi cũng dẫn đến loãng xương, tăng nguy cơ gãy xương và các rối loạn chuyển hóa đi đôi với nguy cơ bệnh lý tim mạch.
Việc chẩn đoán xác định chắc chắn người đàn ông bước vào giai đoạn mãn dục là khó khăn vì quá trình này diễn ra từ từ, các dấu hiệu có thể mơ hồ, không đặc hiệu và khác nhau ở mỗi người. Bên cạnh đó, chấp nhận rằng “phong độ đàn ông” giảm sút là khó khăn đối với một số người nên việc chẩn đoán và điều chỉnh thường bị bỏ qua hoặc chậm trễ và các triệu chứng thường được giải thích với nhiều lý do khác như bệnh tật hay căng thẳng…Thầy thuốc sẽ kết luận một người đang trong thời kỳ mãn dục nam khi các dấu hiệu lâm sàng xuất hiện ở lứa tuổi trung niên phối hợp với bằng chứng suy giảm nồng độ testosterone trong máu.
Việc quyết định điều chỉnh các khó chịu của thời kỳ này tùy thuộc vào mức độ của các dấu hiệu và các bệnh lý phối hợp trong từng trường hợp. Bổ sung nội tiết tố nam là biện pháp hiệu quả và an toàn, tuy nhiên những người có phì đại hay ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú không được dùng hoặc một số bệnh lý khác sẽ được thầy thuốc cân nhắc chỉ định.
Cuộc sống hiện đại với nhiều áp lực căng thẳng, chế độ ăn ngày càng dư thừa, lối sống ít vận động ảnh hưởng rất nhiều đến sự giảm sút và mất cân bằng các nội tiết tố trong cơ thể, làm cho quá trình lão hóa và mãn dục xảy ra sớm hơn. Chế độ ăn uống ngày càng được nhấn mạnh. Ăn giảm chất bột đường, chất béo, tăng cường chất xơ, hạn chế muối, tránh rượu bia, thuốc lá là cách ăn uống lành mạnh, giúp duy trì cân nặng lý tưởng, tránh rối loạn về đường máu, mỡ máu. Với phương pháp ăn uống khoa học này có thể ngăn ngừa bệnh lý tim mạch, huyết áp, ung thư và có thể áp dụng cho tất cả mọi người có mong muốn một sức khỏe tốt. Tập luyện thể dục thể thao hằng ngày không chỉ có tác dụng lớn cả trong điều chỉnh các rối loạn mãn dục nam mà còn làm cho hệ cơ xương, tim mạch dẻo dai hơn, cơ thể năng động hơn, tinh thần thoải mái hơn.
Hãy sống cuộc sống lành mạnh, yêu đời, đón nhận qui luật của tự nhiên một cách tích cực để có thể vượt qua được những giai đoạn khó khăn của cuộc đời, sống lâu, sống khỏe và lạc quan.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Category
Contact the business
Telephone
Website
Address
Hanoi
10000
Opening Hours
| Monday | 09:00 - 17:00 |
| Tuesday | 09:00 - 17:00 |
| Wednesday | 09:00 - 17:00 |
| Thursday | 09:00 - 17:00 |
| Friday | 09:00 - 17:00 |
| Saturday | 09:00 - 17:00 |